F64.2 Rối loạn nhận dạng giới tính ở trẻ nhỏ

Gender identity disorder of childhood

Hướng dẫn mã hóa bổ sung

  • Rối loạn thường biểu hiện lần đầu tiên trong giai đoạn sớm của thời thơ ấu (luôn luôn trước lúc dậy thì) có đặc trưng là sự đau khổ mạnh mẽ và dai dẳng về giới tính đã ấn định của mình, kèm với mong muốn (hoặc nhu cầu đòi hỏi) trở thành giới khác. Cùng có sự bận tâm dai dẳng về quần áo và những hoạt động của giới đối lập và không chấp nhận giới tính của mình. Chẩn đoán đòi hỏi phải có rối loạn sâu sắc về sự xác định giới tính bình thường. Nếu chỉ đơn giản là có nam tính ở nữ hay có nữ tính ở nam thì không đủ để chẩn đoán. Rối loạn nhận dạng giới tính ở những cá nhân đã bước

Các mã cùng nhóm F64

Ghi chú của khối F60-F69

Lưu ý

  • Khối này bao gồm nhiều trạng thái và kiểu hành vi có ý nghĩa lâm sàng với xu
  • hướng dai dẳng và xuất hiện như là thể hiện đặc trưng của lối sống cá nhân và
  • cách thức giao tiếp của cá nhân với bản thân và những người khác. Một số trạng
  • thái và kiểu hành vi này xuất hiện sớm trong quá trình phát triển cá nhân, là kết
  • quả của cả các yếu tố thể chất và trải nghiệm xã hội, trong khi một số khác lại mắc
  • phải sau này trong cuộc sống. Rối loạn nhân cách xác định cụ thể (F60.-), rối loạn
  • nhân cách khác và/hoặc rối loạn nhân cách hỗn hợp (F61.-), và thay đổi nhân cách
  • kéo dài (F62.-) là các kiểu hành vi ăn rất sâu và lâu dài vào tính cách, biểu hiện
  • dưới dạng phản ứng không linh hoạt đối với một loạt các tình huống cá nhân và
  • xã hội . Chúng đại diện cho những sai lệch cực độ hoặc đáng kể so với cách mà
  • một cá nhân bình thường trong một nền văn hóa nhất định nhận thức, suy nghĩ,
  • cảm nhận và đặc biệt là giao tiếp với người khác. Những kiểu hành vi như vậy có
  • xu hướng ổn định và bao gồm nhiều lĩnh vực hành vi và chức năng tâm lý. Chúng
  • thường xuyên, nhưng không phải luôn luôn, gắn liền với các mức độ khác nhau
  • của đau khổ chủ quan và các vấn đề về hoạt động xã hội.